Đẩy mạnh học tập và Làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

17/11/2020 14:58 218 lượt xem

       Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết là một hệ thống quan điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tổ chức, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm đoàn kết rộng rãi các giai tầng trong xã hội, phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc của quốc tế, đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Trong 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong tiến trình lãnh đạo cách mạng. Đó chính là sự kế thừa truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc Việt  Nam  ta.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta luôn xác định: tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là chiến lược nhất quán và xuyên suốt để tập hợp lực lượng cách mạng và là nhân tố quyết định sự thành công. Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc chính là cơ sở quan trọng hình thành tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” - quyển sách được xem là cẩm nang của người làm cách mạng, từ đầu cho đến cuối tác phẩm, Hồ Chí Minh luôn khẳng định đoàn kết là nhân tố quan trọng. Người viết: “Tục ngữ An Nam có những câu: “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó" và "Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây nhóm lại thành hòn núi cao"... Người nhấn mạnh: Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Việt  Nam  ta. Đồng thời, trong nhiều bài viết, Người đã nhiều lần nhấn mạnh: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”.  

Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của vấn đề đoàn kết trong thực tiễn phong trào yêu nước của nhân dân đầu thế kỷ 20: “Vì dân đoàn kết chưa sâu. Cho nên thất bại trước sau mấy lần” cho nên khi tìm thấy con đường cách mạng vô sản là con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã xác định: “trở về nước đi vào dân chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”. 

Đoàn kết là vấn đề sống còn, cho nên trước lúc đi xa, trong Di chúc Người cẩn thận nhắn nhủ: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đảng Cộng sản là người tổ chức, hướng dẫn, lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân, do vậy, Đảng phải là một đảng trí tuệ, cách mạng, thống nhất, phải luôn giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng. Trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở nếu không đoàn kết nhất trí trên dưới một lòng thì ví như một đoàn người đang đi mà không còn khả năng nhìn rõ vạn vật, đến một lúc nào đó việc vấp ngã bởi chướng ngại vật trên hành trình là một tất nhiên và thậm chí sẽ lạc lối, mất phương hướng vì rơi vào tăm tối. Đây cũng là một trong những lí do giải thích vì sao Đảng ta luôn luôn giữ gìn khối đại đoàn kết – chiếc chìa khóa vạn năng đã giúp cho Đảng ta trong hơn 90 năm qua đưa đất nước vượt qua bao thác ghềnh hiểm trở đến bến bờ thắng lợi.

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng, nhưng cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân, vì vậy, đoàn kết phải là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta. Phải thực hiện đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo và đoàn kết quốc tế. Đoàn kết phải thực sự tạo thành sức mạnh vật chất và tinh thần. Người nhấn mạnh: Khối đại đoàn kết toàn dân phải được xây dựng trên lập trường của giai cấp công nhân, lấy liên minh công - nông - trí làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nguyên tắc này xuất phát từ nhận thức khoa học: đại đoàn kết không phải là tập hợp các lực lượng xã hội một cách ngẫu nhiên mà phải là một tập hợp bền vững của các lực lượng có tổ chức, có định hướng, có lãnh đạo.

Đại đoàn kết phải dựa trên nguyên tắc tin dân, dựa vào dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Nguyên tắc quan trọng này bắt nguồn từ sự kế thừa truyền thống của ông cha: “Nước lấy dân làm gốc”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”; là sự quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết là một khoa học và nghệ thuật. Muốn có đại đoàn kết, cần phải tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng một cách khéo léo để mọi người tự giác đoàn kết, từ đó tự nguyện tham gia. Muốn giáo dục, thuyết phục quần chúng thì phải có đường lối, chủ trương đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân - đây là điều quan trọng hàng đầu. Do đó, phải quan sát, nghiên cứu và nắm bắt thực tiễn một cách chính xác; phương pháp, hình thức tuyên truyền phải thích hợp với tâm lý, trình độ của từng đối tượng; người thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động quần chúng phải là tấm gương mẫu mực đoàn kết từ lời nói đến hành động, mục đích thật sự vì lợi ích của nhân dân.

Đó cũng chính là sự kế thừa truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc của ông cha trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước – một di sản tinh thần cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định “Đoàn kết là vấn đề sống còn”, “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”.

Vì vây, thiết nghĩ, việc bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và chuyên đề năm 2020 về “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”./.


Tin khác